CÁC KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

27/02/2023 bởi adm@adm

 

KINH NGHIỆM TRONG NƯỚC 

Mai Châu, Hòa Bình

Bản Lác xã Chiềng Châu huyện Mai Châu là một địa danh du lịch cộng đồng nổi tiếng với du khách trong và ngoài nước. Nằm trong thung lũng Mai châu của tỉnh Hòa bình, Bản Lác là nơi cư trú của của người Thái, còn lưu giữ được những nét văn hóa, phong tục tập quán cũng như các lễ hội. Bản Lác giữ được Kiến trúc của bản dân tộc Thái với những ngôi nhà sàn nguyên bản cùng với lối sống truyền thống tạo ra bản du lịch đặc sắc hấp dẫn thu hút nhiều khách du lịch. Bản lác có tổng diện tích là 429ha, 125 hộ với 530 nhân khẩu gồm 3 dân tộc chính cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 98,2%. Là một trong những địa bàn phát triển loại hình du lịch cộng đồng sớm của tỉnh. Với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, nền văn hóa dân tộc Thái có từ lâu đời, bản Lác từ lâu đã được du khách trong và ngoài nước ghé thăm. Nhưng bản lác chính thức được phép hoạt động du lịch cộng đồng (DLCĐ) từ năm 1993 với 2 hộ dân làm du lịch. Đến năm 1995 phát triển lên 5 hộ, năm 1997 là 15 hộ. Đáp ứng nhu cầu lượng khách tăng dần, đến hết năm 2016, bản đã có 58 hộ làm DLCĐ. Đến nay có trên 70 hộ đăng ký kinh doanh dịch vụ du lịch, đón tiếp khách ăn, nghỉ tại gia đình (Homestay). Phát huy làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm và hàng thủ công mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Sự phát triển điểm du lịch bản Lác có phần trội hơn các bản khác. Là một bản thuần nông, bà con nơi đây vẫn sản xuất nông nghiệp, có thêm nghề dịch vụ du lịch đã làm thay đổi cuộc sống người dân. Bộ mặt nông thôn phát triển nhiều so với trước đây.

Chính quyền nhận thức rõ tầm quan trọng của phát triển du lịch, xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, huyện ủy, HĐND, UBND huyện đã ban hành các nghị quyết, chương trình hành động. Đề án để phấn đấu huyện mai châu trở thành điểm du lịch quốc gia đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, theo đó huyện ưu tiên bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước, tăng cường thu hút, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư để hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Kêu gọi các dự án đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú, thu hút đầu tư khu vực tư nhân và phát huy vai trò năng động của thị trường tài chính trong nhân dân. Tăng cường phối hợp liên ngành giải quyết những vấn đề có liên quan đến quản lý phát triển du lịch như: đầu tư phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá du lịch, bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên du lịch, quản lý sử dụng đất, cơ sở hạ tầng. Đầu tư bảo tồn, tu bổ và phát huy các giá trị các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh. Tăng cường các sản phẩm du lịch và hoạt động về đêm để kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, khuyến khích đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực địa phương. Có chính sách ưu tiên phát triển nguồn nhân lực có tính chuyên nghiệp và chất lượng cao. Đẩy mạnh công tác quảng bá , xúc tiến du lịch.

Với công tác xây dựng nông thôn mới, huyện đã đề ra các giải pháp thực hiện: Tiếp tục huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới, chú trọng cân đối nguồn lực từ ngân sách huyện cho chương trình và lồng nghép thực hiện với các chương trình khác để hoàn thành kế hoạch. Đẩy mạnh chuyển giao KH-KT, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thực hiện dự án phát triển sản xuất nhằm mục tiêu nâng cao đời sống, thu nhập cho người dân. Vận động nhân dân tham gia hiến đất , hiến công để triển khai các công trình công cộng. Tháng 6/ 2017, HĐND Huyện Mai châu đã ban hành nghị quyết số 05 về “chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển du lịch Mai châu giai đoạn “2016-2020”. Mục tiêu phấn đấu cụ thể từ nghị quyết là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 4 – 4,5%/năm, đến năm 2020 thu nhập hộ gia đình nông thôn tăng từ 2-3 lần so với năm 2015, đến năm 2020 toàn huyện có 7/22 xã đạt tiêu chí NTM. Về du lịch: Đến năm 2020 cơ sở lưu trú đạt 680 buồng, đón 530 nghìn lượt khách, tạo việc làm cho 3.000 lao động, trong đó 1.000 lao động trực tiếp. Theo đó hàng năm huyện trích ngân sách hỗ trợ 500 triệu đồng cho các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển du lịch, hỗ trợ 10 triệu đồng cho một hợp tác xã thành lập mới theo luật HTX năm 2012.

An Bàng, Hội An

Biển An Bàng cách Hội An thuộc phường Cẩm An, thị xã Hội An, Quảng Nam. Nơi đây xưa vốn là bãi tắm buổi sáng của ngư dân quanh đó. An Bàng hấp dẫn với màu nước biển xanh ngắt, bãi cát trải dài vàng rực dưới nắng, những mái chòi lợp lá cọ xen giữa những thảm hoa muống biển xanh mướt tím ngát. Hầu hết du khách tới đây là khách nước ngoài, như Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đông Âu…

Năm 2010 An Bàng là một làng chài hoang sơ, yên bình và tĩnh lặng, người dân chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt phụ thuộc vào thời vụ. Các cấp chính quyền cũng đã đề ra những chính sách mở rộng phát triển du lịch các vùng ven của Hội An theo xu hướng du lịch bền vững. Đây chính là cơ hội rất lớn cho làng chài An Bàng có thể chuyển mình từ một làng quê nghèo thành một làng quê phát triển du lịch cộng đồng ( bắt đầu từ năm 2012).

Phần lớn người dân trong làng làm nghề đánh bắt cá, quanh năm bám biển với những tập tục và thói quen chưa phù hợp cho phát triển du lịch: xả rác thải ra biển, phóng uế bừa bãi khắp mọi nơi, đặc trưng tính cách người dân vùng biển khá hung dữ dễ phát sinh mâu thuẫn và giải quyết xung đột cục bộ … Người dân cũng không ý thức được những giá trị văn hóa và tài nguyên mà mình đang có, không nắm bắt tình hình phát triển trong địa phương và trên thế giới.

An Bàng phát triển mô hình du lịch như ngày nay là một phần công sức không nhỏ của ông Lê Ngọc Thuân (chủ tịch Hội Homestay Quảng Nam). Vốn dĩ là một người con An Bàng, dù không qua trường lớp đào tạo, ông Lê Ngọc Thuân đã nỗ lực tìm tòi học hỏi và dành nhiều công sức xây dựng thành công, khởi nguồn là từ mô hình homestay của mình, với mong muốn trao cho mình một cơ hội có thể thay đổi cuộc sống gia đình. Giờ đây ông Thuận là người “cầm tay chỉ việc” tạo sinh kế cho bà con làng xóm nơi đây có đời sống tốt hơn. Ông là người hướng dẫn, thúc đẩy cộng đồng cùng chung tay xây dưng phát triển An Bàng để đạt được những thành công như ngày hôm nay. Bên cạnh đó, một phần đóng góp rất lớn về ý tưởng sáng tạo, từ những người bạn nước ngoài yêu mến và có tâm huyết với Hội An nói chung và An Bàng nói riêng – những người luôn có tầm nhìn, sự hiểu biết, nắm bắt xu hướng thế giới. Họ là người đã chia sẻ, đã truyền cảm hứng để người dân An Bàng nhận thức ra những giá trị to lớn mà quê hương mình đang có.

An bàng chỉ cách phố cổ Hội An 4 km nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ yên bình. Có không gian văn hoá tốt rất phù hợp cho mô hình nghỉ dưỡng kết hợp tìm hiểu văn hoá. Chính từ đó ý tưởng xây dựng một mô hình homestay đầu tiên ở An Bàng đã ra đời. Đồng thời nhờ vào sức mạnh của sự lan toả của cộng đồng đã tạo dựng một môi trường sống tốt hơn, văn minh  hơn. Và từ chính cộng đồng, dựa vào cộng đồng, chúng ta sẽ giữ gìn được các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của An Bàng một cách liền mạch và bền vững nhất.

Mô hình homestay dân giã nhưng đậm chất văn hóa bản địa nên chạm tới cảm xúc của du khách. Qua sự truyền miệng và truyền thông đã thúc đẩy nguồn khách tăng lên theo cấp số nhân dẫn đến các dịch vụ đi kèm cũng phát triển, số lượng homestay tăng nhanh theo từng. Với đặc thù của một vùng duyên hải Miền Trung nắng gió vào mùa hè và ẩm thấp vào mùa đông đòi hỏi phải có sự hiểu biết rõ về cách sử dụng các vật liệu (tre non sẽ bị mối mọt, gỗ non sẽ dễ nứt nẻ…) để giảm bớt gánh nặng cho công tác bảo trì, bảo dưỡng và giảm chi phí thấp nhất cho đầu tư và tái đầu tư.

Mô hình homestay tại An Bàng thành công là nhờ vào nhiều cách thức sáng tạo mà đúng đắn:

Cách sử dụng, đào tạo nhân lực địa phương.

+ Tận dụng tối đa nguồn lực địa phương, đàn ông làm bảo vệ, phụ nữ làm buồng phòng, nấu ăn, làm lễ tân, hướng dẫn khách đi tham quan…

+ Đào tạo theo phương thức cầm tay chỉ việc và hoàn toàn sát thực tế.

Cách sử dụng tài nguyên

+ Giữ nguyên kiến trúc nhà truyền thống ven biển: nhà ba gian cùng mái hiên, khuôn bông trên cửa với chức năng lưu thông không khí và giá trị mỹ thuật.

+ Giữ nguyên gần như toàn bộ cây xanh trong vườn nhà.

+ Giữ nguyên những con đường cát đi bộ xuống biển.

Cách sử dụng vật liệu địa phương linh hoạt, rẻ và dễ kiếm nhưng vẫn đảm bảo được những giá trị công năng và giá trị mỹ thuật.

+ Mái lá dừa

+ Trụ gỗ

+ Nền nhà xi măng

+ Hàng rào bằng tre hoặc gỗ ghe thuyền cũ

+ Trang thiết bị trong phòng được sáng tạo từ những vật liệu tái chế: Khung gương ghép từ cành cây, vỏ ốc sò, đèn treo làm từ củi thu lượm trên bãi biển, trang trí đầu giường bằng ván thuyền cũ…

Có thể thấy rõ giá trị cộng đồng của An Bàng có sực mạnh vô cùng to lớn. Nó không chỉ từ chính quyền, những người dân địa phương mà là còn từ những người bạn quốc tế luôn yêu mến mảnh đất này. Để giờ đây tạo lên một An Bàng xanh, sạch, đẹp, đáng sống như hôm nay.

 

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

Pháp:

Từ những năm 60, chính phủ Pháp có chính sách quy hoạch và phát triển đô thị theo mô hình nông thôn trong đô thị. Chính sách này được xem như một thành công lớn vì nó đáp ứng được yêu cầu và mong muốn của người dân, nâng cao chất lượng sống của thị dân. Đó là làm thế nào để con người có thể tận hưởng được thiên nhiên mà vẫn được đảm bảo những nhu cầu về dịch vụ của đô thị. Các chính sách và dự án phát triển đô thị của Pháp phần lớn thành công là nhờ thực hiện theo định hướng này.

Ngày nay ở nước Pháp, chính sách quy hoạch và phát triển đô thị đều chú trọng phát huy mảng xanh của vùng nông thôn ven đô giữa những khu dân cư. Những mảng xanh ven đô vừa để đảm bảo không gian xanh đô thị, vừa là nơi sản xuất nông sản của người nông dân. Như thế, nông dân có thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình là chính thành phố của mình, lại thêm không phải chịu nhiều chi phí vận chuyển. Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau và là một vấn đế quan trọng trong chính sách phát triển đô thị và phát triển vùng nông thôn ven đô. Xu hướng mới ở những vùng nông nghiệp ven đô là chính quyền khuyến khích người dân phát huy sáng kiến, tạo nên phong cảnh cho nông thôn ven đô ngay trên mảnh đất sản xuất của mình. Những cánh đồng lúa mạch, nho, oải hương (lavender), hướng dương, tulip… ngoài việc mang lại nguồn lương thực cho người dân còn là những điểm hút hồn biết bao nhiêu du khách khao khát đến thưởng ngoạn.

 

Nhật Bản:

Nhật Bản là một quốc gia có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, diện tích nhỏ, dân số lớn, song quốc gia này đã có sự phát triển vượt bậc, trở thành nước có nền kinh tế lớn mạnh, đứng thứ 3 trên thế giới với nền nông nghiệp hiện đại. Đời sống nông dân được bảo đảm, các chính sách an sinh xã hội phát triển. Hiện nay, chỉ có khoảng 3% dân số Nhật làm nông nghiệp nhưng đã cung cấp lương thực, thực phẩm chất lượng cao, đảm bảo cho hơn 127 triệu người dân, đồng thời xuất khẩu nhờ nền nông nghiệp công nghệ cao với chuỗi giá trị hiệu quả. Tuy nhiên, do theo đuổi một cách tập trung vào công nghiệp hóa làm cho khoảng cách giữa nông thôn và đô thị ngày càng trở nên gay gắt. Đồng thời, một lượng lớn cư dân nông thôn di cư đến các đô thị lớn, càng khiến sự chênh lệch giữa hai khu vực này tăng thêm, xã hội truyền thống nông thôn Nhật gần như “tiêu điều”, nhân khẩu nông thôn giảm đi đáng kể. Nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mà cụ thể là chênh lệch nông thôn – đô thị ngày càng gay gắt, từng bước phát triển hài hòa nông thôn – đô thị, Chính phủ Nhật Bản chủ trương vận động chương trình “Chấn hưng nông thôn”, kèm theo đó là nhiều giải pháp, cách làm khác nhau trong từng giai đoạn. Một số điểm đáng chú ý là: Chế định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội tổng thể; Thông qua công tác lập pháp về nông nghiệp, xúc tiến phát triển nhanh về nông nghiệp; Xem trọng vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp, xem hợp tác xã là kênh để tổ chức và hội tụ nông dân, xã hội hóa công tác phục vụ nông thôn, xúc tiến tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông phẩm; Phát huy các ngành nghề truyền thống, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.

Để có được sự thành công trong phát triển nền nông nghiệp gắn với nông thôn và nông dân, Nhật Bản đã xác định gia tăng giá trị cho người nông dân là nhiệm vụ quan trọng. Ở mỗi giai đoạn, khi đứng trước những vấn đề mới, phức tạp… Chính phủ Nhật Bản đã giải quyết khá thành công thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp, như chính sách về đất đai, đầu tư, tín dụng, lao động, khoa học công nghệ và phát triển nông thôn. Cụ thể, ngay từ khi cải tạo đất nông nghiệp, Chính phủ đã đưa máy móc cỡ lớn vào canh tác để nhà nông có nhiều thời gian nhàn rỗi, làm thêm nghề phụ hoặc làm cho các nhà máy. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản khuyến khích người nông dân tham gia hợp tác xã để đủ tài chính sở hữu các kho trữ lạnh, bảo quản tốt nông sản khi tới tay người tiêu dùng. Từ đó nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp.

Nhờ việc áp dụng và triển khai nhiều chính sách phù hợp, mang lại hiệu quả trong phát triển tam nông tại Nhật Bản, các nhà nghiên cứu chính sách đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm dẫn đến sự thành công đó, bao gồm:

Đối với nông nghiệp: Kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản cho thấy quá trình công nghiệp hoá tại quốc gia này được khởi đầu bằng một giai đoạn phát triển đột phá của nông nghiệp. Điều này được cho là khá phù hợp với lịch sử phát triển ở các nước phát triển trên thế giới, khi tăng trưởng nông nghiệp luôn là yếu tố thiết yếu cho tiến trình công nghiệp hoá. Và sự thành công kỳ diệu nhất của quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản chính là sự gắn kết thành công giữa công nghiệp và nông nghiệp. Trong đó, công nghiệp luôn phục vụ nông nghiệp phát triển và ngược lại, nông nghiệp trở thành thị trường lớn để tích luỹ cho công nghiệp. Ngoài ra, Nhật Bản luôn có chính sách hỗ trợ kịp thời để khuyến khích phát triển nông nghiệp như: Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các trang thiết bị, vật tư cho nông nghiệp, cung cấp thông tin, xúc tiến thương mại, cho vay vốn tín dụng,…

Đối với nông thôn: Với phương châm “ly nông bất ly hương”, Nhật Bản đã thực hiện thành công việc đưa công nghiệp về nông thôn. Nhật Bản đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng nhà máy, nhằm thu hút được nhiều lao động nông nghiệp. Cùng với chính sách giữ giá nông sản cao, Nhật Bản đã xoá bỏ được khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và đô thị. Đây là một thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hoá trước đây và hiện vẫn đang là thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá.

Đối với nông dân: Nhật Bản tạo nhiều điều kiện để nông dân sản xuất giỏi có thể tích luỹ phát triển quy mô sản xuất, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuất hàng hoá lớn. Thông qua tổ chức hợp tác, trang bị cho họ kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu khoa học – công nghệ và nắm bắt thị trường thành thạo. Ngoài ra, các hợp tác xã và các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là trợ thủ đắc lực, là công cụ bảo vệ quyền lợi, đào tạo nghề, giúp người nông dân có vị thế trong đời sống chính trị – xã hội.

 

Thái Lan:

Thái Lan là một nước nông nghiệp truyền thống, có khí hậu, địa lý và thổ nhưỡng tương đồng với Việt Nam. Với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước, để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân.

Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước có chiến lược xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển.

 

Đài Loan:

Du lịch nông thôn (DLNT) đã trở thành một loại hình quản lý nông nghiệp ở Đài Loan. Hiện tại, có 2 mô hình phát triển khác nhau. Một cho các dự án của chính phủ được hỗ trợ bởi chính quyền trung ương. Các dự án như vậy xin ý kiến ​​của chính quyền địa phương, các hiệp hội nông dân, cũng tham khảo ý kiến ​​nông dân để xem họ sẵn sàng tham gia như thế nào. Để xin hỗ trợ tài chính, dự án phải tuân theo các quy định quản lý DLNT. Mô hình khác là dự án thương mại được hỗ trợ bởi ngân sách công ty. Loại hình này thường có hình thức của trang trại giải trí. Mặc dù số lượng trang trại giải trí ở Đài Loan đang tăng lên, hầu hết chúng thuộc về các công ty thương mại.

DLNT có tác động tích cực đến phát triển nông nghiệp, thu nhập của nông dân và mức sống ở NT. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là làm thế nào để đạt được sự đồng thuận giữa chính quyền địa phương, hiệp hội nông dân và cá nhân người nông dân về loại dự án nào cần thúc đẩy, cách thức được tài trợ và vận hành. XD dựng lại niềm tin của nông dân vào nông nghiệp khi Đài Loan tham gia WTO là nhiệm vụ cấp bách ngay bây giờ. Tin rằng sự kết hợp giữa DLNT và trang trại giải trí cung cấp cơ hội tốt cho nông dân để đáp ứng thách thức này.

Việc thực hiện DLNT nên sử dụng dịch vụ giải trí như cách để đạt được sự phát triển nông nghiệp. Nông nghiệp là khía cạnh đầu tiên được xem xét. Sau đó tích hợp với cảnh quan thiên nhiên, các điểm du lịch khác và văn hóa địa phương. DLNT đảm bảo lợi ích cho nông dân, nhưng không chỉ tập trung vào tự nhiên, môi trường, cũng cần hướng đến khách hàng và cố gắng cung cấp dịch vụ tuyệt vời cho khách du lịch.

Quy hoạch du lịch nông thôn

Hàng năm, chính phủ trung ương phân bổ ngân sách cho các tỉnh, sẵn sàng thúc đẩy sự phát triển DLNT. Mỗi tỉnh sau đó sẽ xem xét các đề xuất quy hoạch dựa trên các đặc sản nông nghiệp cụ thể và sở thích của các hiệp hội nông dân địa phương. Phân bổ ngân sách từ trên xuống. Một số hiệp hội nông dân địa phương cũng đề xuất ngân sách tương ứng để tăng cường sự tham gia của họ vào quy hoạch DLNT.

Quy trình quy hoạch: đầu tiên, thảo luận các mục tiêu; sau đó phân tích các luật và quy định liên quan; đánh giá tiềm năng của các lĩnh vực và hoạt động khác nhau đối với DLNT; lựa chọn các hạng mục và lĩnh vực quan trọng cho các chương trình chi tiết; quy hoạch triển khai chi tiết cho các khu vực khác nhau, và cuối cùng, phân tích lợi nhuận kinh tế và các lợi ích khác. Tỉnh Nam Đầu (Nantou county), ở trung tâm Đài Loan, là một trường hợp thử nghiệm. Nam Đầu – tỉnh nông nghiệp điển hình với rất ít ngành công nghiệp. Tài nguyên gồm các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, cảnh quan đa dạng. Thêm nữa, việc thay đổi theo mùa làm tăng thêm tiềm năng du lịch của Nam Đầu. Có hoa và lá mới – mùa xuân, cây phong đầy màu sắc – mùa thu và tuyết – mùa đông.

Quy hoạch đề xuất 5 khái niệm phát triển chính và 35 lĩnh vực phát triển tiềm năng. Tất cả các khu vực được chia thành ba lớp. (tức là, A, B hoặc C theo mức độ ưu tiên). 13 khu vực đã được giao cho lớp A. Ngoài ra, Nam Đầu đang lên quy hoạch phát triển DLNT tại 4 thị trấn và khu vực lân cận. Hai thị trấn Luku và Shinyi, đã có một loạt các hoạt động du lịch. Xung quanh Luku, các điểm tham quan bao gồm: tham quan các vùng trồng chè, các địa điểm văn hóa và lịch sử, tre và rau dại ăn được. Xung quanh Shinyi, khách du lịch bị lôi kéo đến những vườn mận, vườn nho, trang trại trồng rau, hoa và đồn điền trà. Cả 2 thị trấn hiện đang cải thiện các cơ sở du lịch, bao gồm cả những đường mòn đi qua khung cảnh tuyệt đẹp.

Quy hoạch DLNT ở Luku và Shinyi bao gồm: các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, sử dụng đất, sự sẵn lòng tham gia của nông dân, số lượng khách tiềm năng và các điểm giải trí liền kề. Sau khi phân tích các mục trên, ngân sách lập quy hoạch đã được chỉ định cho các khu vực với khoảng thời gian khác nhau. Thực hiện đánh giá tác động môi trường. Cả 2 thị trấn đủ điều kiện để phát triển giải trí nông nghiệp của chính phủ trung ương. Các giai đoạn phát triển 1 và 2  đã được hoàn thành ở cả 2 thị trấn. Phản ứng tích cực từ nông dân địa phương: du lịch làm tăng lợi nhuận của nông nghiệp, cung cấp cho công chúng loại hình giải trí mới.

Trong hầu hết các cộng đồng nông nghiệp Đài Loan, hiệp hội nông dân là tổ chức quan trọng nhất, Luku và Shinyi cũng thế. Ở mỗi thị trấn, hiệp hội nông dân là tổ chức điều hành giúp quảng bá và phát triển DLNT.

 

Hệ thống tuyến đường du lịch được đề xuất cho thị trấn Luku

Phân vùng chi tiết khu du lịch nông thôn ở thị trấn Shinyi

Tác động môi trường của DLNT

Như ở hầu hết các quốc gia, DLNT ở Đài Loan rất đa dạng, phản ánh các nguồn lực và phong tục địa phương đa dạng. Mỗi loại hình nông nghiệp giải trí có tác động khác nhau đến môi trường.

Trang trại tham quan: nhấn mạnh sự tham gia vào kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp và các hoạt động giải trí. Có tác động tương đối đến môi trường. Điều quan trọng là cần thực hành các phương pháp sản xuất không gây ô nhiễm như canh tác hữu cơ, đảm bảo an toàn cho du khách.

Trang trại công dân (Citizen Farms): Trong loại trang trại này, cư dân thành phố chia sẻ một mảnh đất nhỏ, canh tác trong những ngày cuối tuần và ngày lễ. Loại hình này cho phép người dân thành thị chia sẻ các hoạt động nông nghiệp và tận hưởng cảnh quan đất nước. Trang trại công dân nên theo phương pháp SX bảo vệ môi trường.

Trang trại giáo dục: SX nông nghiệp, đời sống nông nghiệp và kinh nghiệm về văn hóa nông thôn là những điểm chính trong các trang trại giáo dục. Các trang trại như vậy có ít tác động đến môi trường, nhưng cần chú ý đến sự an toàn của các cơ sở giải trí.

Trang trại sức khỏe (y tế): Cư dân thành phố có thể ở lại để phục hồi sức khỏe, thường là sau khi bị bệnh hoặc phẫu thuật. Sự thu hút chính – cảnh quan thiên nhiên và trang trại. Để giữ gìn vẻ đẹp của cảnh quan, các khía cạnh sinh thái và liên quan cần được xem xét khi phát triển các cơ sở vật chất hoặc chặt phá rừng.

Chính phủ không khuyến khích phát triển DLNT trên quy mô lớn. Trong các trang trại giải trí, du khách chia xẻ công việc nông nghiệp, điều quan trọng – sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, phân bón một cách cẩn thận; Tốt hơn sẽ là nông nghiệp hữu cơ. Đối với việc xử lý nước thải và các chất thải khác – phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, để tránh ô nhiễm môi trường do quá nhiều du khách.

Để quản lý DLNT hiệu quả, chính phủ thu thập ý kiến ​​từ các hiệp hội nông dân và các tổ chức khác. Khi quy hoạch được đệ trình, chính phủ kiểm tra từng hạng mục dự án theo từng mục. Các hạng mục được kiểm tra: quyền sở hữu đất, tiềm năng du lịch, bảo tồn nước và đất, bảo vệ môi trường, giấy phép xây dựng, tác động đến nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong quá trình thực hiện, chính phủ tổ chức một số cuộc họp công khai để giải thích chương trình, đảm bảo rằng các hiệp hội nông dân và người nông dân tuân theo các quy định cần thiết: các biện pháp phòng ngừa an toàn, kiểm soát ô nhiễm, vệ sinh, an toàn thực phẩm (ăn uống, chế biến) và chất lượng giải trí.  Thực hiện thành công DLNT, môi trường sản xuất và bán hàng sẽ được cải thiện.

Thời gian thực hiện dự án du lịch thường là 5 năm. Chính phủ cũng cung cấp các khoản vay lãi suất thấp cho nông dân phát triển trang trại du lịch khi có thể đáp ứng tất cả các quy định.

Với mô hình DLNT trong bối cảnh Tự do Thương mại Quốc tế, đã giúp nông dân tăng lợi nhuận trang trại của họ, cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống nông thôn. Nhìn vào hiệu quả của DLNT ở Nam Đầu, không chỉ có sự phát triển của các trang trại du lịch xung quanh Luku và Shinyi, mà cả các cộng đồng địa phương cũng đã được hồi sinh. Tiềm năng của DLNT để thu hút du khách là rất lớn..

 

ÁP DỤNG CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm phát triển đồng bộ toàn diện nông nghiệp, nông thôn, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân. Đặc biệt, sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW Hội nghị Trung ương 7 khóa X về tam nông cũng đã từng bước thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Đây là Nghị quyết mang tính lịch sử đầu tiên, đề cập đến toàn diện cả 3 lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định nông dân là chủ thể, xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện nông nghiệp là then chốt. Giải quyết tốt vấn đề tam nông chính là nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, không chỉ đến năm 2020 mà còn cho suốt chặng đường phát triển của đất nước.

Ngoài ra, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII cũng nhấn mạnh cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phát triển nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa. Chính phủ đã triển khai kế hoạch phát triển tam nông thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm  nghèo  bền vững. Theo đó, tam nông là vấn đề có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là cơ sở và nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.

Hiện nay Chính phủ đã có những chỉ đạo tích cực đối với các giải pháp về: Xây dựng nông thôn mới cấp thôn, bản cho những vùng đặc thù, khó khăn; chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản xuất. Vấn đề phát triển tam nông ở Việt Nam đã được gắn kết cùng việc thực hiện tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nâng cao giá trị sản phẩm dựa trên hai yếu tố là tổ chức lại sản xuất và tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật.

Vì vậy, việc học tập các kinh nghiệm về phát triển nông thôn của các nước là cấn thiết, qua đó áp dụng vào điều kiện thực tế của Việt Nam là thiết thực trong bối cảnh toàn cầu hóa. Từ đó có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm tốt cho Việt Nam trong giai đoạn đầu của kỳ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2021-2030.

Đặc biệt, với các cách làm trong triển khai thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) hiện nay ở nước ta, được xem là việc tham khảo một trong những kinh nghiệm thành công điển hình trong phát triển tam nông của Nhật Bản từ những năm 80 của thế kỷ XX. Mô hình DLNT của Đài Loan cũng là 1 bài học đáng giá. Theo đó, bên cạnh việc thực hiện Chiến lược kinh tế-xã hội nói chung, cần chú ý phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị, chú trọng các nguồn lực tại chỗ sẵn có làm động lực phát triển như đất đai, tài nguyên, điều kiện địa lý, công nghệ, lòng tự hào dân tộc, cùng khả năng sáng tạo, văn hóa.

Có thể nói, cho dù tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được thúc đẩy thế nào, các nước có đa phần dân số làm nghề nông cũng buộc phải chấp nhận một thực tế: Vài chục năm, thậm chí hàng trăm năm nữa, số dân tiếp tục dựa vào nông nghiệp để mưu sinh vẫn là số lớn. Chính vì vậy, xây dựng NTM không phải là một quy hoạch kinh tế ngắn hạn mà là một quốc sách lâu dài.

 

Bài học kinh nghiệm:

Một là: xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật hỗ trợ ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Căn cứ vào tình hình phát triển của nông thôn và mục tiêu của từng thời kỳ. Ban hành các pháp lệnh và chính sách hỗ trợ nông nghiệp lâu dài, không ngừng cập nhật, sửa đổi về luật pháp và chính sách… Tạo nên một hệ thống, hành lang pháp lý hoàn chỉnh để công cuộc xây dựng nông thôn mới được tiến hành thuận lợi. Tại Việt Nam chương trình Xây dựng NTM là chương trình tổng hợp chính trị -kinh tế-xã hội về nông nghiệp, nông dân và nông thôn  theo từng giai đoạn phát triển. Vì vậy , để thực hiện tốt phải có chiến lược thực hiện cụ thể, chủ động , sáng tạo, sâu sát, liên tục của cấp ủy chính quyền nhất là vai trò trách nhiệm của người đứng đầu. Cần có chính sách giải quyết vấn đề kinh phí đầu tư cho phát triển nông nghiệp, xây dựng chính sách hỗ trợ nông nghiệp như trợ giá nông phẩm, xây dựng quỹ rủi ro về giá nông phẩm.

Hai là: Khuyến khích người nông dân tích cực tham gia, coi trọng tính tự lập tự chủ trong xây dựng NTM. Để tập trung xây dựng nông thôn mới, cần hướng dẫn người dân thực hiện, đầu tiên là thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, sau đó đi sâu vào phong trào giao thông, điện sáng nông thôn, môi trường nông thôn xanh sạch đẹp, giữ gìn bản sắc địa phương.

Ba là: Phát triển du lịch cộng đồng (DLCĐ) cần quan tâm những vấn đề chủ yếu là phát triển phải gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc. Đây sẽ là thế mạnh để khai thác, phát huy giá trị đặc trưng, thu hút khách du lịch, nhất là khách du lịch quốc tế. Phải gắn với bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan, di tích lịch sử, môi trường khu vực và phải gắn với lợi ích cộng đồng dân cư, xóa đói giảm nghèo .

Bốn là: Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng nhà máy, nhằm thu hút được nhiều lao động nông nghiệp, chú trọng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là người dân vùng sâu vùng xa, bà con dân tộc thiểu số. Xây dựng các công trình vệ sinh, bảo vệ nguồn nước, bổ sung các trang thiết bị phục vụ lưu trú tại điểm phát triển DLCĐ. Trang bị cho người nông dân kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu khoa học – công nghệ và nắm bắt thị trường thành thạo. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của hợp tác xã nông nghiệp, là tổ chức bao quát các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn và hộ nông dân, bảo vệ quyền lợi của người nông dân, thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

Năm là: Trong quá trình thực hiện cần đảm bảo hài hòa giữa quy hoạch KTXH, quy hoạch phát triển DLCĐ và quy hoạch xây dựng nông thôn mới, tăng cường quản lý quy hoạch xây dựng, tuyên tuyền cho người dân nâng cao nhận thức không làm phá vỡ không gian, cảnh quan môi trường, không gian văn hóa dân tộc. Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, tạo sức hút cho khách du lịch. .

ThS.KTS Nguyễn Kim Anh

Viện Kiến trúc – Hội KTSVN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu Hội thảo Khoa học Gặp gỡ mùa thu 2019 “Kiến trúc với phát triển nông thôn”, Hội kiến trúc sư Việt Nam, 2019.

2. Mô hình nông thôn mới điển hình tại một số quốc gia, Tạp chí quy hoạch xây dựng, tạp chí chuyên ngành, tập 85+86, số 1, năm 2017

3. http://consosukien.vn/phat-trien-tam-nong-cua-nhat-ban-va-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-viet-nam.htm

4. Tình hình kiến trúc Việt Nam 5 năm 2010-2015, Báo cáo của BCHTW Hội KTSVN (khóa VIII) tại đại hôi đại biểu toàn quốc (khóa IX) nhiệm kỳ 2015-2020

5. Đánh giá 10 năm công tác quy hoạch nông thôn trong chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM, BXD, 2019.

6. Báo cáo tổng hợp: Đánh giá tình hình xây dựng phát triển kiến trúc nhà ở nông thôn vùng đồng bằng bắc bộ trong thời kỳ đổi mới. PGS.TS.KTS Nguyễn Đình Thi: NCS.KTS Đỗ Trọng Chung- Kiến trúc – Quy hoạch ĐHXD

7. Quyết định số 1246/QĐ-TTg, ngày 19/7/2021 về Phê duyệt Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

8. Sổ tay hướng dẫn thiết kế xây dựng nhà ở nông thôn Việt Nam, Hội kiến trúc sư Việt Nam, 2020.

9. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch xây dựng nông thôn, quản lý cảnh quan trong xây dựng nông thôn mới – Ủy viên TWĐ, Bộ trưởng bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường – Tạp chí xây dựng Việt Nam – Số 01,2021.