Đà Lạt được bác sĩ Alexandre Yersin phát hiện khi ông lần đầu đặt chân đến cao nguyên huyền thoại Lâm Viên vào tháng 6/1893. Trong con mắt của ông, vùng đất này đẩy quyến rũ và tiềm ẩn nhiều giá trị cần được khai phá. Năm 1897, Yersin cùng Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer quyết định chọn nơi đây để xây dựng một địa điểm nghỉ dưỡng lý tưởng. Qua các đời Toàn quyền sau đó đã có công mở mang, thúc đẩy sự phát triển của vùng đất này, để rồi, từ một cao nguyên Lang Biang hoang sơ trở thành một Đà Lạt đầy quyến rũ và trong trẻo hôm nay.
Trong các đồ án quy hoạch Đà Lạt, được nhắc đến nhiều hơn cả là đồ án thực hiện năm 1923 của KTS. Ernest Hebrard. Nói như PGS.TS. Nguyễn Hồng Thục, quy hoạch của Hebrard “như cách ta bóc đi lớp vỏ bọc đất đá để lộ một viên ngọc đại ngàn nơi rừng sâu. Sau hai năm làm việc ông đã hình thành hai đường viền quan trọng cho Đà Lạt. Đường viền thứ nhất bao quanh một khu vực chừng 30 ngàn ha có thể bao chứa chừng 50 ngàn dân, phân định ranh giới thành phố và tự nhiên, để tuyệt đối tránh việc xây dựng có thể lấn vào thiên nhiên hoang sơ bao bọc xung quanh. Đường viền thứ hai tựa vào địa hình để chạy một nét mềm mại ở lưng chừng giữa núi đồi và thung lũng, khoanh ranh giới mơ hồ của một bên là những đồi thông cổ cao vút, một bên là những thung sâu thấp xuống – cũng là đường viền chính để bám theo nó lựa chọn đất xây dựng một thành phố ẩn giữa cỏ cây…” [6].

Ngày nay, Đà Lạt được nhìn nhận như một “Bảo tàng kiến trúc Pháp thế kỷ 20 tại Việt Nam”, với các công trình kiến trúc thời Pháp thuộc có giá trị cao. Trong số này, chiếm tỉ lệ lớn là hàng trăm biệt thự nghỉ dưỡng duyên dáng, ẩn mình kín đáo trong khung cảnh rừng thông, núi đồi đầy mê hoặc của thành phố. Có thể nhận định rằng, với hơn 120 năm lịch sử, Đà Lạt không hẳn là một đô thị cổ, nhưng cũng đã xây dựng được cho mình không ít những công trình kiến trúc độc đáo, đa dạng về thể loại và phong phú về phong cách. Ở Việt Nam, quỹ di sản kiến trúc Pháp của Đà Lạt có lẽ chỉ đứng sau Hà Nội, Sài Gòn, trội hơn Hải Phòng ở quỹ công trình biệt thự.
Ngày nay, các cấu trúc đô thị/ trung tâm hoạt động đươc tạo lập từ quy hoạch đầu tiên của Herbrard, qua một số lần điều chỉnh, cơ bản vẫn giữ được:
Trải qua hơn 6 thập kỷ kể từ khi người Pháp rút khỏi Đà Lạt, quỹ di sản đô thị thời Pháp thuộc vẫn được bảo lưu, khai thác và phát huy:

Thực tiễn cho thấy, bên cạnh các di sản kiến trúc Pháp, Đà Lạt đang “dung nạp” thêm nhiều thể loại kiến trúc mới không khác các đô thị lớn. Những kiến trúc này không làm nên đặc trưng mới cho đô thị Đà Lạt. Bên cạnh đó, sự thịnh hành của nhà chia lô, tỷ lệ bê tông hóa cao… đang làm giảm đi giá trị kiến trúc cảnh quan Đà Lạt. Các công trình xây dựng mới hiện đại đang có xu hướng lấn át các công trình cũ của Đà Lạt. Hiện trạng bảo tồn di sản kiến trúc đang cho thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại, cụ thể:
Gần đây, các nhà chuyên môn đã đề xuất một không gian tập hợp nhiều di sản / khu vực di sản có giá trị, đó là Trục di sản đô thị Đà Lạt. Trục di sản đô thị có vị trí quan trọng vì nó tập hợp nhiều công trình công cộng và biệt thự có giá trị dọc theo trục. Đây cũng là lối đi của người Lạch xưa qua vùng cao nguyên hoang sơ Lang Biang trước đây. Trục di sản này có tiềm năng phối kết rất lớn với không gian cảnh quan hồ Xuân Hương cận kề để tạo thành một không gian di sản đô thị quan trọng bậc nhất của Đà Lạt.
Có thể gia tăng giá trị cho trục di sản này bằng cách mở rộng các điểm đến hấp dẫn trong phạm vi gần, kết nối với các hoạt động bản địa, với các loại hình di sản khác để tạo ra giá trị tổng hợp có sức hấp dẫn và khả năng phát huy cao hơn cho tổng thể không gian di sản đô thị Đà Lạt.
Trong phần tiếp theo của bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến quỹ biệt thự Pháp tại Đà Lạt, vì đây là nhóm công trình chiếm tỉ trọng lớn, cùng với di sản cảnh quan, có vị trí quan trọng hàng đầu trong các nhóm di sản đô thị Đà Lạt.

Theo khảo sát, hơn 1500 biệt thự trước đây được phân chia thành nhiều hạng theo diện tích phân lô của đất xây dựng, trong đó đáng kể là các khu biệt thự tiêu chuẩn cao (diện tích lô đất >1.500m2) là nơi ở hay nghỉ mát dành cho tầng lớp thượng lưu trước đây, gồm các khu Trần Hưng Đạo, Hùng Vương, Lê Hồng Phong, Lê Lai, Nguyễn Du… đều nằm xa trục đường chính. [2] Các ông trình được bố trí cách xa nhau từ vài chục đến vài trăm mét để đảm bảo sự riêng tư, tĩnh lặng và mức độ ăn nhập cảnh quan. Người Pháp đã sắp xếp các tòa biệt thự với nhiều tầng, nhiều cấp theo sát đường đồng mức để bám lấy địa hình mà không phải phá hủy nó. Do lấy thiên nhiên làm nền, làm không gian chính của cảnh quan nên người Pháp đã khống chế phạm vi xây dựng ở mật độ rất thấp so với diện tích phân lô rất lớn.

Việc xây dựng các khu biệt thự rất chú trọng sự hòa nhập của công trình kiến trúc vào thiên nhiên, với địa hình và rừng thông được giữ hầu như nguyên vẹn. Do có khí hậu tương đồng với châu Âu, nên đa số công trình kiến trúc Pháp khi du nhập vào Đà Lạt đều phù hợp với điều kiện tự nhiên địa phương. Sau này, khi được cộng hưởng thêm yếu tố văn hóa, lối sống bản địa, các công trình này đều thích nghi tốt và chứng tỏ sức sống bền bỉ của kiến trúc Pháp trong suốt chiều dài phát triển của Đà Lạt. Sự hòa nhập giữa biệt thự với cảnh quan tự nhiên và địa hình đồi núi của Đà Lạt đã tạo nên dấu ấn riêng có không thể trộn lẫn của thành phố so với các đô thị khác của cả nước.

Về phong cách kiến trúc: Kiến trúc Pháp tại Đà Lạt tập hợp đầy đủ các phong cách do người Pháp mang vào xây dựng tại Việt Nam. Có thể nói, Việt Nam chỉ có 4 đô thị là Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng và Đà Lạt có “bộ sưu tập” phong cách kiến trúc thời thuộc địa đa dạng đến mức này. Riêng với nhóm công trình biệt thự, có thể xác định tương đối rõ ràng các phong cách chính, gồm có:
Một điểm độc đáo trong quỹ kiến trúc biệt thự Pháp tại Đà Lạt là các Dinh thự. Thực chất đây là những biệt thự quy mô lớn, ngoài chức năng để ở, nghỉ dưỡng thì còn có thêm chức năng là nơi giao dịch công việc nhà nước, gắn với những nhân vật quan trọng trong quá khứ. Các Dinh này vừa có giá trị kiến trúc / nghệ thuật, trong một chừng mực nào đó, vừa có thêm cả giá trị văn hóa / lịch sử.
Theo thống kê trong Quyết định số 47/2017/QĐ-UBND về việc “Ban hành Quy định bảo tồn, quản lý, sử dụng quỹ biệt thự thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Lạt của UBND tỉnh Lâm Đồng” [8], có 05 biệt thự nhóm 1, 74 biệt thự nhóm 2 và 83 biệt thự nhóm 3 thuộc sở hữu Nhà nước cần được bảo tồn, khai thác đúng quy định. Tuy nhiên, còn hàng trăm biệt thự khác thuộc sở hữu tư nhân, mà trong số này có nhiều công trình có giá trị, vẫn chưa được thống kê, phân loại, để xác lập danh mục công trình có giá trị cần được quản lý, bảo tồn thích hợp. Ngoài việc phạm vi tác động chưa bao trùm toàn bộ quỹ biệt thự Đà Lạt, thì khối lượng công việc cần thực hiện theo quyết định 47 cũng chưa thật sự đầy đủ, hướng nhiều về công tác quản lý nhà nước mà chưa đề cập sâu đến quy trình bảo tồn vốn đòi hỏi nhiều công đoạn, tài chính và nhân lực.
Thời gian qua, nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế đã tham gia vào các dự án nhằm khôi phục, bảo tồn và khai thác hệ thống biệt thự cổ, trong đó một số dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động hiệu quả như: Dự án của Tập đoàn Six Senses cải tạo 15 ngôi biệt thự cổ xây dựng từ những năm 1920 tại khu Lê Lai thành khu resort nghỉ dưỡng 4 sao; dự án 16 biệt thự Đường Trần Hưng Đạo của công ty Cadasa; khu biệt thự đường Nguyễn Du của Tập đoàn Hoàng Anh-Gia Lai, dự án biệt thự Phi Ánh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hoài Nam….Tuy vậy, số lượng các công trình đã và đang được bảo tồn và cải tạo là còn rất nhỏ so với tổng số với các công trình công cộng và hơn 1.500 ngôi biệt thự cổ của Đà Lạt. [5]
Về định hướng bảo tồn di sản đô thị chung, chúng tôi đề xuất một số hướng sau:
Đối với quỹ di sản biệt thự hoặc nhà ở nói chung, vấn đề lấn cấn nhất luôn là sở hữu. Khác với biệt thự Hà Nội có tình trạng đa sở hữu, biệt thự Đà Lạt lại gặp tình trạng khó xác minh chủ sở hữu, hoặc chủ sở hữu không sử dụng / không có khả năng + nguồn lực để trùng tu, duy tu công trình. Tình trạng nhiều nhà biệt thự để không cho thấy sự lãng phí rất lớn về nguồn lực vật chất, và phần nào đó là giá trị tinh thần của môi trường/ không gian di sản trong đô thị. Để bảo tồn quỹ biệt thự, bên cạnh việc khảo sát, đánh giá, phân loại kịp thời và đầy đủ quỹ di sản biệt thự (gồm cả các biệt thự thuộc sở hữu tư nhân) để có chính sách bảo tồn thích hợp, chúng tôi muốn nhấn mạnh các yếu tố xã hội trước khi thảo luận các giải pháp bảo tồn kiến trúc:
Chúng tôi đề nghị nghiên cứu và xây dựng được mô hình/ cơ chế chuyển giao quyền sở hữu (tạm thời và lâu dài) có sự tham gia của ba bên, trong đó có Nhà nước (thông qua ủy quyền cho các cơ quan chuyên môn/ Trung tâm quản lý, thẩm định, trung gian điều phối…)
Có thể xem xét áp dụng các phương pháp điều tiết tài nguyên không gian đô thị (TDR) để đảm bảo cân bằng giá trị kinh tế/ bất động sản giữa các công trình/ khu vực di sản bị khống chế phát triển, với các dự án xây dựng mới trong đô thị. Đối với các đô thị lớn có mật độ xây dựng và độ nén cao, TDR có thể được chuyển giao và mang lại lợi nhuận cho các chủ sở hữu di sản (vốn thấp tầng) thông qua chuyển giao/ bán quyền sở hữu khoảng không phía trên cho các dự án gần đó có nhu cầu sử dụng thêm không gian để tăng chiều cao và diện tích sử dụng.

Đối với Đà Lạt, TDR có thể áp dụng trong điều tiết/ chuyển giao quyền sở hữu mật độ xây dựng giữa các lô đất có công trình di sản (vốn phải duy trì mật độ rất thấp) với các khu vực phát triển đô thị mới / công trình mới có nhu cầu lớn hơn về diện tích xây dựng. Tuy nhiên, Nhà nước phải đóng vai trò “cầm chịch” trong điều phối/ kết nối, cũng như phải kiểm soát chặt chỉ số mật độ xây dựng trung bình của từng khu vực di sản (được chỉ rõ trong quy hoạch đô thị và quy hoạch bảo tồn). Cần tránh tình trạng trong khi Chính quyền muốn giãn dân/ giảm mức độ nén của đô thị và các khu vực di sản, thì một số nhà đầu tư/ phát triển đô thị lại sử dụng TDR để đảo ngược chính sách này, cuối cùng chính di sản và không gian di sản lại là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp nhất.
Để thực thi thành công các dự án bảo tồn trong khu vực tư nhân, sau giai đoạn thực hiện quy trình bảo tồn chuyên môn, chúng tôi đề nghị tăng cường truyền thông di sản và áp dụng các cơ chế khen thưởng cho các chủ công trình thực hiện tốt công tác bảo tồn. Công tác bảo tồn biệt thự tư nhân ở Đà Lạt rất cần sự “đi trước” của Nhà nước về chính sách, rồi tiến tới đồng hành trong thực thi, và sau đó là tư vấn trong khai thác, sử dụng.

Có thể tham khảo mô hình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng ở Singapore như một ví dụ tốt về vai trò đồng hành của Nhà nước và giới chuyên môn cùng với người dân trong bảo tồn chính ngôi nhà của họ. Mô hình hợp tác công – tư có thể thúc đẩy mạnh mẽ việc bảo tồn và tôn tạo một cách hợp lý và “win-win” (các bên cùng có lợi) do chính sách mềm dẻo và thỏa hiệp giữa nhiều mâu thuẫn lợi ích, huy động được nguồn tài chính tốt từ khối tư nhân, từ đó đảm bảo tính bền vững về kinh tế cho di sản trong khi tính bền vững văn hóa vẫn được đảm bảo. [1]

Kinh tế di sản là vấn đề quan trọng mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong bảo tồn quỹ biệt thự Pháp tại Đà Lạt. Bên cạnh việc chứng minh tính quan trọng của di sản đô thị về mặt lịch sử, văn hóa, giáo dục… thì rất cần thiết nghiên cứu, đánh giá, lượng hóa giá trị kinh tế của di sản đô thị (cả giá trị hữu hình và vô hình trong một chu kỳ quá khứ – hiện tại – tương lai) để có thể cung cấp cho các nhà quản lý / nhà đầu tư / cộng đồng các số liệu đầy đủ về ảnh hưởng của việc giữ hay không giữ di sản. Sẽ thuyết phục hơn nếu một dự án có những đánh giá độc lập, khách quan, chính xác về mọi khía cạnh của một di sản trước khi chúng ta quyết định làm gì với di sản.
Trong bối cảnh nhiều biệt thự cũ ở Đà Lạt đang bị bỏ quên, phá hủy… để xây dựng công trình mới, các nhà chuyên môn và cơ quan quản lý càng cần nghiên cứu về lượng hóa giá trị kinh tế của di sản, để chứng minh được những giá trị được đo lường rất cụ thể của một hay nhiều biệt thự cũ có giá trị. Khi nhìn vào giá trị kinh tế của di sản đô thị, phải xem công tác bảo tồn như một chiến lược đầu tư lâu dài nhưng thông minh cho tương lai. Cần phát huy giá trị kinh tế của di sản đô thị thời Pháp thuộc thông qua thúc đẩy hình thành, hoàn thiện hệ sinh thái di sản trong đô thị Đà Lạt, bao gồm các yếu tố cấu thành: Di sản kiến trúc và đô thị thời Pháp thuộc; di sản cảnh quan tự nhiên và nhân tạo; di sản truyền thống của người Lạch, người Kinh; môi trường sinh thái tự nhiên độc đáo; các hoạt động đô thị và lễ hội văn hóa; các dịch vụ di sản liên quan đến du lịch – nghỉ dưỡng – chữa bệnh – học tập;… Khi tạo ra mạng lưới kết nối tốt, được quản lý tốt thông qua các chính sách hợp lý, được hỗ trợ phát triển trên nền tảng công nghệ mạnh… thì hệ sinh thái di sản đô thị sẽ tạo ra giá trị kinh tế cộng hưởng lớn, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội. [7]

Để xây dựng mới một công trình kiến trúc hiện đại, có thể cần có nhiều tiền, nhưng để có được một di sản đô thị, ngoài tiền thì còn cần có những thứ không thể nào mua được – Đó là thời gian, niên đại, lịch sử, ký ức và kỷ niệm… Do đó, bảo tồn di sản không chỉ là “món quà” để lại, mà còn là trách nhiệm của chúng ta đối với các thế hệ mai sau. Bảo tồn di sản kiến trúc Pháp ở Đà Lạt phải chú ý song hành ba yếu tố: Cấu trúc đô thị, cảnh quan sinh thái và vật thể kiến trúc. Ba yếu tố này phải luôn được xem xét cùng lúc khi tiến hành phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng và hiệu quả của các phương án bảo tồn. Cần tạo ra cơ chế phối hợp liên ngành, tăng cường khả năng định lượng trong nghiên cứu về di sản.

Đối với công tác bảo tồn quỹ biệt thự Pháp tại Đà Lạt, cần chú ý các giải pháp / chính sách xã hội đi trước, rồi mới tới các giải pháp kỹ thuật bảo tồn. Cần tạo ra cơ chế vòng tròn để di sản tự sản sinh ra tiền để đầu tư trở lại trùng tu, bảo tồn di sản, có thể tạo ra nguồn lực cho phát triển mà không cần phải thay thế, phá hủy di sản.
Bảo tồn di sản đô thị và thích ứng hóa các giá trị của di sản trong phát triển là chìa khóa để giữ “hồn” của thành phố, đặc biệt là các đô thị “mong manh”, dễ “tổn thương” như Đà Lạt.
Nguyễn Quốc Tuân
Chủ nhiệm khoa Kiến trúc – Công trình trường Đại học Phương Đông
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2019)