Ngày nay, xu hướng mới của các đô thị trên thế giới đang chuyển dịch từ phát triển dựa vào đất liền (land-based) sang phát triển dựa vào biển (ocean-based) nhằm tìm kiếm các cơ hội kinh tế từ đại dương. Tuy nhiên, các đô thị biển đang chịu tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu (BĐKH) và chính những tác động này sẽ là trở lực chính cho phát triển của chính đô thị. Việc tìm hiểu những giải pháp thích ứng BĐKH và vấn đề đầu tiên cần đặt ra trong phát triển đô thị biển.
Việt Nam là quốc gia biển với chỉ số biển khoảng 0,01 (gấp 6 lần giá trị trung bình của thế giới), với 3.260km đường bờ biển, trên 1 triệu km2 vùng lãnh hải; với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và trên 3.000 đảo, quần đảo khác. Các khu kinh tế, công nghiệp và cảng biển kết nối các đô thị biển sẽ trở thành động lực hình thành các trung tâm đổi mới, các mô hình phát triển theo cơ hội hậu công nghiệp. Vùng Tây Nam Bộ nằm ở vùng cực nam của Việt Nam, thuộc khu vực hạ lưu sông Mê Kông, bao gồm các tỉnh tiếp giáp biển như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Vốn là những khu vực rất hiếm khi chịu tác động của các tai biến tự nhiên. Thế nhưng gần đây, hàng loạt các tin tức về tổ hợp các thiên tai nguy hiểm xảy ra ở các địa phương ven biển vùng Tây Nam Bộ xuất hiện ngày càng nhiều. Đây như một hồi chuông đáng báo động về vấn đề cần phải có những giải pháp để các đô thị biển vùng Tây Nam Bộ có thể thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong tương lai.
Bài viết sẽ tập trung vào việc đề xuất những bước đi khoa học đầu tiên trong việc tích hợp nội dung BĐKH trong phát triển đô thị biển dưới góc nhìn cấu trúc đô thị.
THẾ GIỚI VÀ KINH TẾ BIỂN THẾ KỶ 21
Thế kỷ của biển và đại dương là một trong những tên gọi dành cho Thế kỷ 21, bởi lẽ kinh tế biển đang dần trở thành nội dung hàng đầu trong chiến lược biển của các quốc gia. Các ngành kinh tế biển mới nổi (năng lượng sạch, khai thác dầu và khí vùng biển sâu, hàng hải và cảng cực lớn quốc tế, công nghệ sinh học biển, du lịch biển, dịch vụ biển công nghệ cao,…) đã có tốc độ phát triển rất nhanh dựa trên nền tảng hậu hiện đại. Nhìn vào hai hình sau, ta có thể thấy rõ xu hướng phát triển đô thị biển như vũ bão và Việt Nam cũng sẽ không nằm ngoài xu hướng đó.
Hình1: Các thành phố ven biển và sự tích tụ dân cư giai đoạn năm 1945 – 1954
(Nguồn: https://doi.org/10.1016/j.ocecoaman.2015.06.004)
Hình2: Các thành phố ven biển và sự tích tụ dân cư giai đoạn năm 2005 – 2012
(Nguồn: https://doi.org/10.1016/j.ocecoaman.2015.06.004)
Các xu thế phát triển đô thị biển trên thế giới cũng ngày càng đa dạng: Thứ nhất, tích tụ dân cư ven biển trong các đô thị ven biển trên quy mô toàn cầu (Hugo, 2011; Balk, 2009; Small, 2003); Thứ hai, đổi mới liên kết đô thị – cảng biển quốc tế. Các đại đô thị thế giới ven biển gắn với cảng biển – tạo dòng chảy kinh tế nối quốc tế vào sâu nội địa (mặc dù xu hướng khoảng cách không gian địa lý kéo dãn giữa cảng biển với trung tâm đô thị (Ducruet, 2005; Ducruet và Lee, 2006); Thứ ba, xu thế phát triển du lịch sinh thái biển. Các giá trị nổi trội của các cảnh quan thiên nhiên biển, hải đảo và hệ sinh thái tự nhiên đã tạo ra tiềm năng lớn này cho biển Việt Nam.
Hình 3: Các tuyến đường vận chuyển hàng hải chính trên Thế Giới (Nguồn: https://porteconomicsmanagement.org/)
ĐÔ THỊ BIỂN VIỆT NAM LÀ NHỮNG CỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
Cực kinh tế từ đô thị biển: Hệ thống các chuỗi đô thị biển (một chỉnh thể không gian kết nối: ven biển – biển – đảo theo PGS Chu Hồi) cần trở thành “bàn đạp” và hạt nhân tiến biển. Theo tư duy chiến lược, các đô thị biển có thể xây dựng “nồi cơm biển” theo đặc thù địa lý và chuỗi kết nối của mình: Đô thị nông nghiệp biển (đánh bắt, nuôi trồng và chế biến); Đô thị năng lượng sạch; Đô thị hải cảng (đóng tàu, dịch vụ sau cảng và logistic); Đô thị du lịch sinh thái biển; Đô thị tài chính quốc tế; Đô thị nghệ thuật và sáng tạo.
Những đô thị này dựa trên 4 lĩnh vực đóng góp tới 98% kinh tế biển Việt Nam (khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; giao thông vận tải 11% và du lịch biển trên 9%). Chắc chắn tương lai đô thị biển Việt Nam sẽ gắn chặt với Chiến lược phát triển kinh tế biển đã được xác định rõ trong Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” với mục tiêu “kinh tế biển đóng góp 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển”.
ĐÔ THỊ BIỂN ĐA CHIỀU THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Khi bàn luận về hệ sinh thái đô thị biển, chúng ta không thể phủ nhận đô thị biển nói riêng hay một đô thị nói chung luôn luôn tồn tại bên trong nó một hệ sinh thái (HST) với bốn yếu tố Tự nhiên – Kinh tế – Con người – Văn hóa, tương tác trong dòng chảy nội tại của nó.
Hình4: Quan niệm về phát triển bền vững của phát triển bền vững năm 1987 (bên trái) và sau 2015 (bên phải)
Một đô thị phát triển mà không cân bằng động giữa bốn yếu tố này sẽ phá vỡ đi hệ sinh thái vốn có của nó, hiển nhiên sẽ đưa các hạt nhân phát triển bị mâu thuẫn và triệt tiêu lẫn nhau. Ví dụ, suy thoái HST tự nhiên đang đe dọa đến phát triển của loài người, ngược lại sự biến đổi nhận thức bảo vệ tài nguyên môi trường lại góp phần phát triển kinh tế tuần hoàn và phúc lợi môi trường sống.
Thiết lập xu hướng phát triển cân bằng hệ sinh thái đô thị biển có sự tham gia đa chiều và liên ngành được đề xuất theo hình 6 như sau:
Hình 5: Xây dựng mô hình phát triển Hệ sinh thái đô thị biển đa chiều
Dựa trên các khái niệm đa chiều để xây dựng mô hình phát triển, PGS.TS.KTS.Nguyễn Hồng Thục đã đưa ra một Mô hình phát triển HST ĐTB – ĐC như sau:
Các tác động đa chiều sẽ gồm tác động theo chiều ngang và tác động theo chiều dọc:
Đô thị biển thích ứng với BĐKH – là tiền đề cho phát triển mới.
Bên cạnh việc thiết lập mô hình phát triển cân bằng đa chiều, các đô thị biển đồng thời cần phải có khả năng thích ứng với BĐKH. Nội hàm việc Thích ứng BĐKH của một đô thị là làm tăng khả năng chống chịu tự nhiên, tăng khả năng chống chịu xã hội và tăng khả năng chuyển hóa các thách thức thành cơ hội phát triển mới cho đô thị đó. Đơn lẻ từ “thích ứng” đã thể hiện rõ việc đô thị phải điều chỉnh để thích nghi được với các tác động của BĐKH, tuy nhiên đây cũng chỉ mới là một giải pháp bị động để phát triển. Trong xu hướng tích hợp liên ngành, các nội dung biến đổi khí hậu có thể được lồng ghép vào các nội dung quy hoạch phát triển đô thị (QHPTĐT). Từ đó, khả năng thích ứng với BĐKH của đô thị sẽ được nâng cao một cách hiệu quả và chủ động hơn.
Hình 6: Phương pháp đánh giá khả năng thích ứng của đô thị trước BĐKH
Xét về mặt nguyên tắc, khi tích hợp BĐKH vào QHPTĐT cần thiết phải đảm bảo được các yếu tố phát triển bền vững, duy trì được các lợi ích từ dịch vụ HST tự nhiên – xã hội địa phương (đặc biệt là các đô thị ven biển) và hài hòa được các lợi ích phát triển khu vực, vùng. Lộ trình để tích hợp BĐKH vào QHPTĐT cần thiết phải trải qua từng bước sau:
Với lộ trình tích hợp này, một số các phương pháp được sử dụng như sau:
LỒNG GHÉP NỘI DUNG THÍCH ỨNG BĐKH VÀO ĐÔ THỊ BIỂN – GÓC NHÌN TỪ TKĐT
Lồng ghép nội dung BĐKH
Theo lý thuyết M.G.Cougen – cha đẻ của bộ môn hình thái học đô thị cho rằng có 3 yếu tố bất biến đổi và 5 yếu tố biến đổi tác động tới việc xác định hình thái của một đô thị:
Với lý thuyết của Thiết kế đô thị thì trong đô thị sẽ gồm 3 lớp cấu trúc chính tương ứng ba khía cạnh quan trọng nhất của đô thị gồm: Kinh tế – Xã hội – Môi trường. Trong đó, các lớp cấu trúc trong từng lớp vấn đề sẽ được thể hiện trong không gian thông qua phương pháp Bóc tác phân lớp bản đồ và Chồng lớp bản đồ. Từ các lớp bản đồ, các nhà QLPTĐT có thể nhận ra xu hướng phát triển cũng như những thế mạnh, thế yếu, cơ hội và những đe dọa đến sự phát triển của đô thị. Đặc biệt những khu vực trọng yếu cho sự phát triển của đô thị cũng sẽ được dễ dàng nổi lên trên các lớp bản đồ.
Bảng 1- Các lớp cấu trúc đô thị của một đô thị dưới góc nhìn Thiết kế đô thị
| Các lớp cấu trúc đô thị | Các khía cạnh đô thị |
| Vị trí địa lý | Môi trường |
| Địa hình, địa chất | |
| Khí hậu (Nắng, gió, mưa, nhiệt độ, độ ẩm, chế độ bốc hơi) | |
| Thủy văn, hải văn | |
| Tài nguyên đất, nước, tài nguyên ĐDSH, tài nguyên khoáng sản. | |
| Các tai biến thiên nhiên (bão, lũ, ngập mặn, nước biển dâng, nhiệt độ tăng, …v.v.) | |
| Môi trường nước, không khí: nước mặt, nước ngầm, trầm tích, không khí và tiếng ồn. | |
| Dịch vụ HST gồm 4 loại: Dịch vụ cung cấp (dược liệu, thủy sản, các sản phẩm liên quan); Dịch vụ điều tiết (cung cấp khí Oxy, hấp thụ và lưu trữ CO2, lọc và hấp thụ các chất độc hại, ô nhiễm ven biển, tăng lượng bồi tụ trầm tích mở rộng đất đai, giảm nguy cơ xói lở bờ biển); Dịch vụ hỗ trợ (cung cấp thức ăn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng con non, vườn ươm cho các loài thủy hải sản ven biển, điểm di trú của chim, lưu truyền vốn gen); Dịch vụ văn hóa (cư trú bản địa, đặc thù nghề, du lịch và giải trí, văn hóa, tín ngưỡng và giáo dục). | Kinh tế |
| Đặc điểm dân cư và phân bố dân cư (Dân số và dân tộc, Lao động, việc làm và thu nhập) | Xã hội – Con người |
| Đặc điểm văn hóa và xã hội (Văn hóa, lễ hội truyền thống, Các di chỉ khảo cổ học, Tiềm năng khảo cổ học) | |
| Mạng lưới hạ tầng kỹ thuật (Giao thông, điện nước, viễn thông…) | Hình thái đô thị |
| Sử dụng đất (phân lô đất, thửa đất, sử dụng đất) | |
| Phần đặc của đô thị (Các công trình gồm công trình nhà ở, công cộng, tôn giáo …) | |
| Phần rỗng của đô thị (Các không gian mở, không gian công cộng, không gian xanh…) | |
| Cảnh quan thiên nhiên còn lại của đô thị (Hồ, kênh rạch, mảng xanh) | |
| Các nội dung liên quan thể chế, chính sách và kế hoạch phát triển đô thị (Hành chính, quy hoạch và quản lý phát triển đô thị) | Thể chế và Chính sách |
Lồng ghép phương pháp đánh giá khả năng thích ứng BĐKH vào các lớp cấu trúc đô thị
Trong lộ trình tích hợp BĐKH vào phát triển đô thị, cần tuân thủ các bước theo b Bảng 2
Bảng 2- Quy trình đánh giá khả năng thích ứng BĐKH
| Bước 1. Khảo sát hiện trạng đô thị và xây dựng cơ sở dữ liệu đô thị | Phương pháp: (1) Thu thập, (2) Hệ thống hóa số liệu, và (3) Phân tích các lớp cấu trúc đô thị.
Kết quả: (1) Số liệu đã được hệ thống hóa và (2) Các lớp cấu trúc đô thị. |
| Bước 2. Đánh giá khả năng thích ứng và dánh giá mức độ tổn thương do BĐKH. | Phương pháp: (1) Các bộ chỉ số đánh giá khả năng thích ứng của đô thị với BĐKH; (2) Phương pháp đánh giá tổn thương do BĐKH và (3) Chồng lớp bản đồ.
Kết quả: (1) Kết quả đánh giá khả năng thích ứng, (2) Mức độ bị tổn thương và (3) Cấu trúc đô thị. |
| Bước 3. Dựa vào khả năng thích ứng, mức độ tổn thương và cấu trúc đô thị sẽ đề xuất các nội dung BĐKH và đưa vào nội dung QHPTĐT | Kết quả: (1) Kết quả đánh giá khả năng thích ứng, (2) Kết quả đánh giá mức độ tổn thương và (3) Kết quả phân tích SWOT thông qua cấu trúc đô thị. |
| Bước 4: Tùy theo mỗi đô thị khác nhau, xây dựng lộ trình và khung tích hợp BĐKH vào QHPTĐT khác nhau | Kết quả: (1) Lộ trình tích hợp và (2) Khung tích hợp. |
| Bước 5: Từ khung tích hợp sẽ đề xuất các nội dung tích hợp trong các khía cạnh về Kinh tế – Xã hội – Không gian cho bốn yếu tố chính: Tự nhiên – Kinh tế – Con người – Văn hóa. | Kết quả: (1) Nội dung tích hợp. |
| Bước 6: Từ các nội dung tích hợp đã đề xuất ở bước 5 sẽ đề xuất các giải pháp tích hợp BĐKH vào QHPTĐT nhằm tăng khả năng thích ứng và giảm mức độ tổn thương do BĐKH của các đô thị | Kết quả: (1) Các giải pháp tích hợp. |
Áp dụng chiến lược thích ứng BĐKH
Đây là vấn đề đầu tiên trong hoạch định phát triển đô thị biển: Trong quá trình phát triển, các đô thị biển Vùng Tây Nam Bộ cần liên kết vùng và thích ứng với BĐKH trên quy mô toàn cầu, quốc gia. Chiến lược tích hợp để thích ứng BĐKH cho hệ thống đô thị biển với trọng tâm là các cực kinh tế biển cần khắc phục cách tiếp cận đơn ngành và ứng phó có tính địa phương. Trong tương lai, vấn đề thích ứng BĐKH vì thế cần đưa ra đầu tiên trong các chiến lược phát triển đô thị quốc gia và địa phương./.
NCS.KTS.Nguyễn Thị Tuyết Trinh
Khoa Liên ngành, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Viện Kiến trúc.