
Trái đất là ngôi nhà chung của nhân loại ngày một trở nên chật trội. Theo dự báo của Tổ chức dân số thế giới thì dân số trái đất sẽ đạt mức 10 tỷ người vào năm 2050. Dân số tăng cùng với quá trình đô thị hoá tạo ra rất nhiều áp lực cho chính quyền các đô thị ở mọi quốc gia.
Theo số liệu của UNPD, đến năm 2007 đã có hơn 50% dân số sống trong thành phố. Có khả năng là vào cuối thế kỷ này, hơn 80% dân số sẽ sống ở các thành phố. Xu hướng đô thị hóa không thể thay đổi này cùng với những tác động không tốt của nó tới đời sống dân cư đô thị đã đặt ra rất nhiều đòi hỏi với các nhà quản lí chính quyền thành phố có những biện pháp khắc phục những khuyết tật của các đô thị một cách hiệu quả và nhanh chóng. Đối với đa số người dân, việc phải sống ở trong đô thị là không thể thay đổi nên việc làm sao để thành phố thực sự trở thành “nơi đáng sống” là mong mỏi của tất cả mọi người. Chính vì vậy, hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều lí thuyết cũng như ứng dụng cụ thể vào việc nỗ lực tạo ra các Thành phố thông minh, phát triển một cách bền vững, nâng cao chất lượng sống và năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân[8].
Song hành thực hiện việc này có sự hỗ trợ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với một xu hướng tất yếu mạnh mẽ mang tính chất toàn cầu đó là chuyển đổi số sâu và rộng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Ở Việt Nam, việc tham gia chủ động cuộc Cách mạng 4.0 đã được quán triệt từ Bộ Chính trị [1] và cụ thể hóa ở các chương trinh quốc gia của Chính phủ [2,3,4], các Bộ Ngành và các Chính quyền địa phương trên cả nước. Ngành xây dựng cũng đã nhanh chóng triển khai kế hoạch Chuyển đổi số của minh với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, và đáp ứng sự đòi hỏi của sự phát triển chung cũng như cho việc xây dựng các khu đô thị, hiện đại hóa các thành phố.
ICT – Công nghệ thông tin và truyền thông hiện đang được coi là “chìa khoá vạn năng” cho việc hỗ trợ cho các thành phố trong việc xử lý các vấn đề bất cập đó là các vấn đề về ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, quá tải về hạ tầng, mất an ninh an toàn v.v … Tuy nhiên, việc dựa hoàn toàn vào các nền tảng mang tính công nghệ ICT để giải quyết các vấn đề của đô thị sẽ không thể mang lại các kết quả như mong muốn do những hạn chế vốn đã có sẵn của đô thị đặc biệt là công trình thuộc hạ tầng kỹ thuật đô thị như: hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống cấp điện, hệ thống thu gom và xử lý rác thải… và thuộc hạ tầng xã hội như: hệ thống công trình y tế, hệ thống công trình giáo dục, công trình phục vụ công cộng … đây chính là những “sản phẩm” của ngành kiến trúc – xây dựng. Toàn bộ các hệ thống công trình nàu là các cấu trúc cứng là “bộ khung xương” của đô thị, những khuyết tật của nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của dân cư độ thị và rất khó giải quyết cho dù có sự hỗ trợ của ICT.
Vấn đề cần đặt ra là làm sao các đô thị được xây dựng hạn chế tối đa các khuyết tật này bắt đầu ngay từ khâu thiết kế quy hoạch, công trình để giảm các vấn đề của đô thị ngay từ gốc rễ, giảm sự đầu tư và phụ thuộc vào năng lực hệ thống ICT nhất là đối với các nước nghèo, nước đang phát triển, nơi mà cả năng lực tài chính và công nghệ còn nhiều hạn chế. Việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đô thị ngay từ việc xây dựng phần cứng sẽ đòi hỏi rất nhiều nỗ lực cố gắng của nhiều người trong việc tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật hiệu quả, bền vững với chi phí thấp cũng chính là một giải pháp thông minh. Phương châm của định hướng này là “càng nghèo càng phải thông minh”. Và thông minh ở đây được hiểu là sử dụng tối ưu nguồn lực hạn chế để ứng phó với sự thay đổi, và là sự tổng hợp của những kinh nghiệm cả từ quá khứ (kết tinh văn minh) cùng với những giải pháp đương thời trong tình huống cụ thể đem lại hiệu quả cao hơn mức thông thường.
Trong khuôn khổ bài viết này, xin được bắt đầu từ việc đưa ra một vài giải pháp cụ thể tác động đến phần cứng mang tính gợi ý trong một số vấn đề của đô thị để từ đó đặt ra các vấn đề tổng quan hơn cho việc thay đổi của ngành Kiến trúc trách nhiệm kiến tạo môi trường sống cho con người trong dòng chảy của Cách mạng 4.0 và xu hướng Chuyển đổi số.
Do việc di dân từ các vùng nông thôn vào thành phố mà các đô thị ngày một phì to và dần trở thành các siêu đô thị. Gia tăng dân số là một trong những lý do chính mang đến những thách thức. Đó là nguyên nhân sinh ra những khu ổ chuột, những khu định cư kém vệ sinh, ô nhiễm. Những cá nhân sống trong các khu ổ chuột không được tiếp cận đầy đủ về giáo dục hoặc y tế, dẫn đến dân trí thấp kém, bệnh tật hoành hành. Song hành với nó đó là việc gia tăng tội phạm, những người vô gia cư, và tắc nghẽn giao thông do qui hoạch đô thị không theo kịp tốc độ tăng trưởng dân số.
Để giải quyết đồng thời việc gia tăng dân số với chất lượng đô thị, các hình thái đô thị nén đã ra đời. Đô thị nén (nhỏ gọn) “là đô thị có mật độ định cư cao, diện tích nhỏ nên chủ yếu phát triển về chiều cao và không gian phía trên, ít phụ thuộc vào xe ô tô cá nhân, có ranh giới rõ ràng với các khu vực xung quanh, có khả năng tự cung cấp đầy đủ dịch vụ, sử dụng hỗn hợp đất đai một cách đa dạng tức là phát triển các khu vực đô thị đa chức năng (cư trú, làm việc, học hành, mua sắm và giải trí), [10] để tạo điều kiện cho phần lớn người dân hàng ngày có thể đến các nơi cần thiết chỉ bằng đi bộ, xe đạp và giao thông công cộng”., tiêu thụ năng lượng thấp và giảm ô nhiễm. Mô hình này được cho là một loại hình định cư đô thị bền vững hơn so với đô thị tràn lan vì nó ít phụ thuộc vào ô tô hơn, yêu cầu cung cấp cơ sở hạ tầng ít hơn (và rẻ hơn bình quân đầu người). Đô thị nén đa trung tâm là đô thị có mô hình tổ chức không gian với nhiều trung tâm khác nhau, có tính chất độc lập hoặc phụ thuộc lẫn nhau. Mỗi trung tâm đều có tiêu chí của đô thị nén và chúng được liên kết với nhau bằng hệ thống giao thông công cộng. Phát triển đô thị mà đáp ứng các mục tiêu đô thị bền vững, bao gồm kinh tế thịnh vượng, chất lượng môi trường, công bằng xã hội… để phát huy tài nguyên đất đai nhưng không ảnh hưởng tới thế hệ tương lai khi đáp ứng nhu cầu của họ chính là mô hình lý tưởng của đô thị trong kỷ nguyên 21.
Việc quy hoạch các trung tâm mới của một đô thị hiện hữu là một giải pháp cần nhiều dữ liệu và tính toán một cách chi tiết. Việc xác định đúng vị trí các trung tâm mới (làm vệ tinh) hay các khu đô thị mới trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường cần dựa trên những mô hình phát triển từ lí thuyết về địa tô của Von Thunen (1826). Lý thuyết này tập trung vào việc giải quyết vấn đề trong phân tích địa điểm. Đây là mô hình đã đánh dấu sự khởi đầu có ý nghĩa trong phân tích địa điểm của địa tô đô thị và trong kinh tế học toán học. Việc chuyển từ thiết kế và quản lý quy hoạch theo các nguyên lý về phân chia cơ cấu chức năng sang thiết kế và quản lý dựa trên các mô hình và tính toán kinh tế giúp cho việc khai thác và sử dụng đất hiệu quả hơn, tối ưu hoá giữa chi phí đầu tư hạ tầng của đô thị (giao thông công cộng) cân bằng với lợi nhuận của nhà đầu tư đồng thời giải quyết được các vấn đề hiện hữu của đô thị. Đây chính là vấn đề mà bài toán kinh tế đô thị cần giải quyết và chính là một giải pháp thông minh.
Nếu lấy thủ đô Hà Nội ra làm ví dụ để phân tích, thì kể từ năm 1994 đến 2015, Hà nội có 252 dự án khu đô thị mới. Số các khu đô thị đã hoàn thành là 34, số đang hoàn thiện là 57, còn lại chưa xây dựng. Đại đa số chức năng các khu đô thị này là khu ở, với mục tiêu đầu tư kinh doanh bất động sản. Các khu đô thị đã xây dựng đều nằm trong bán kính 10km so với trung tâm Hà Nội và bám dọc theo các đường vành đai và các trục đại lộ hướng tâm. Tuy nhiên, mặc dù đã có số lượng các khu đô thị chất “vệ tinh” nhiều như vậy, nhưng thủ đô Hà Nội vẫn chưa gỉai quyết được những vẫn đề đã tồn tại từ rất lâu (cũng chính là các căn cứ để xin phê duyệt quy hoạch) đó là : giãn dân nội đô, giảm ô nhiễm, giảm ùn tắc giao thông… Chính quyền thành phố đã phải đầu tư rất nhiều từ nguồn vốn ngân sách cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và kỹ thuật, nhưng tình trạng không những không được cải thiện mà còn trở nên xấu đi. Các khu đô thị mới được hưởng lợi từ hạ tầng đó, càng tạo ra sức hút cho những dân từ các địa phương về Hà Nội. Dân số tăng nhanh, hạ tầng càng quá tải, cụ thể là việc tắc nghẽn giao thông thường xuyên xảy ra ở các cửa ngõ vào thành phố. Việc các khu ở chỉ có chức năng ở, không giải quyết được các nhu cầu khác như việc làm, giáo dục, giải trí … nên chỉ làm cho khu vực nội đô ngày một quá tải.
Việc quy hoạch các khu đô thị mới nếu tiếp tục không được tính toán một cách kỹ lưỡng về mặt kinh tế đô thị, không đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà đầu tư và thành phố, không đem lại hiệu quả về mặt xã hội, quyết các vấn đề đô thị như mong muốn thì cần phải xem lại. Nếu không Hà Nội sẽ lại là một đô thị phát triển kiểu tràn lan (sprawl city) với rất nhiều hệ luỵ mà đã xảy ra trên nhiều nơi trên thế giới.
Một trong những vấn đề lớn hiện nay là bên trong các đô thị (hoặc một phần) ấm hơn các khu vực ngoại ô với độ chênh nhiệt độ lên tới 2-3 độ C. Hiện tượng này được gọi là Đảo nhiệt đô thị, mà nguyên nhân chính là sự thay đổi bề mặt sử dụng đất trong quá trình phát triển đô thị hoá, hay nói một các dễ hình dung hơn là do bê tông hoá các bề mặt tạo rạ hấp thụ ánh sáng mặt trời và duy trì nhiệt độ lâu. Nhân tố thứ hai góp phần tạo ra đảo nhiệt đô thị là lượng nhiệt thải ra do quá trình sử dụng năng lượng.
Hiện tượng đảo nhiệt sẽ làm gia tăng việc tiêu thụ năng lượng cho việc làm mát với quy mô toàn thành phố, đặc biệt là các nước có khí hậu nhiệt đới như Việt Nam. Việc làm cho thành phố mát hơn sẽ làm giảm đáng kể lượng tiêu thụ năng lượng, đồng nghĩa với việc giảm phát thải CO2, giảm tác động xấu tới chất lượng môi trường không khí. Đô thị mát hơn cũng tạo ra môi trường tốt hơn cho những hoạt động ngoài trời của dân cư đô thị như đi bộ, đi xe đạp … thay cho việc sử dụng oto riêng do có điều hoà. Như vậy sẽ vừa giảm được mức tiêu thụ nhiên liệu, vừa giảm mật độ giao thông, giảm ô nhiễm, dẫn đến chất lượng sống của người dân đô thị tăng.
Giải pháp cho việc giảm hiện tượng đảo nhiệt cũng chính là sự thay đổi lại bề mặt với 2 nguyên tắc chính. Một là xanh hoá các bề mặt, thông qua các giải pháp tăng cường trồng cây xanh, giảm bớt các bề mặt bê tông bằng việc trồng xem cỏ hoặc cây xanh. Xu hướng xây dựng các công trình xanh với việc trồng cây theo chiều thẳng đứng, trên mái nhà cũng có tác dụng tương tự bên cạnh việc giảm lượng CO2. Hai là sử dụng các bề mặt có khả năng phản xạ ánh nắng mặt trời, thường là có các vật liệu ít hấp thụ nhiệt và có sáng màu.
Việc giảm bớt các bề mặt bê tông cũng là một giải pháp đòi hỏi nhiều chất xám cho việc tính toán và thiết kế hay nói cách khác đòi hỏi người thiết kế phải thông minh hơn. Việc giảm bớt bề mặt bê tông còn giúp cho việc giảm tải cho hệ thống thoát nước, giảm lượng nước tưới, chống lún sụt cho đô thị. Một giải pháp mà đạt được đa mục tiêu là một giải pháp mang tính thông minh.
Ùn tắc giao thông là một vấn nạn chung của đa số các đô thị trên thế giới. Việc ùn tắc giao gây ra những hệ luỵ có tính chất liên hoàn. Đầu tiên phải kể đến đó là lãng phí về thời gian di chuyển, lãng phí về việc tiêu thụ năng lượng. Thứ đến là việc ô nhiễm môi trường gồm chất lượng không khí và tiếng ồn. Và cuối cùng là ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người về cả mặt thể chất và tâm lý, nguồn gốc của rất nhiều bệnh. Ở góc độ kinh tế, ùn tắc giao thông gây ra thiệt hại rất lớn về kinh tế. Do đó giải pháp chống ùn tắc giao thông là một nhiệm vụ quan trọng của mọi chính quyền các đô thị.
“Ùn tắc giao thông là tình trạng trong đó nhu cầu về không gian đường vượt quá sự đáp ứng”. Để giải quyết vấn đề này, đa số đều thống nhất rằng giải pháp hữu hiệu nhất là phải giảm việc sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân, đặc biệt là oto do chiếm nhiều diện tích, gia tăng việc sử dụng các phương tiện công cộng. Các hệ thống giao thông công cộng có công suất vận chuyển lớn như: xe bus, tàu điện, tàu điện ngầm, tàu điện trên cao … cần được nhanh chóng đầu tư và đồng bộ. Đây cũng chính là trục giao thông liên kết chính của các khu trung tâm của đô thị nén. Ở quy mô khu vực, việc xác định quy mô dân số tối ưu cùng với bán kính phục vụ hợp lý của các khu đô thị mới là hết sức quan trọng, phải đảm bảo làm sao phù hợp nhất với việc đi bộ và di chuyển bằng xe đạp. Đồng thời với nó là việc hỗ trợ hạ tầng giao thông: làn riêng, đèn tín hiệu … cho việc tăng cường việc đi bộ và sử dụng xe đạp để di chuyển. Làm được như vậy, ngoài việc giảm được ùn tắc, thì còn có lợi cho sức khoẻ của con người. Với các đô thị bền vững, đô thị đáng sống thì thông qua việc tạo điều kiện thuận cho người đi bộ và đi xe đạp chất lượng đô thị sẽ tự được đề cao.
Để làm được việc này, như đã đề cập ở phần đô thị nén, việc phân bổ chức năng trong đô thị phù hợp khoảng cách đi bộ và đi xe đạp là rất quan trọng. Việc tổ chức trung tâm đa chức năng với bán kính phục vụ thân thiện đối với người đi bộ và đi xe đạp giúp phần giảm thiểu việc tham gia giao thông của người dân. Tuy nhiên để làm được như vậy cần có xây dựng một hệ thống giao thông riêng thân thiện với người đi bộ và đi xe đạp bao gồm làn giành riêng và hệ thống điều khiển giao thông hỗ trợ. Đây là công việc của các nhà quy hoạch, thiết kế đô thị và các kiến trúc sư.
Trên thế giới, ở một số nước phát triển đặc biệt là Bắc Âu, các chính quyền thành phố đã nỗ lực để chuyển đổi thành phố của họ thành những thành phố không xe hơi, khuyến khích người dân đi xe đạp. Còn ở Việt Nam đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có tiêu chuẩn cho đường đi bộ và đi xe đạp.
Đã từ lâu con người tìm kiếm các nguồn năng lượng tái tạo, nhằm đảm bảo an toàn năng lượng cho tương lại hậu dầu lửa. Đối với khu vực đô thị nguồn năng lượng tái tạo phù hợp nhất chính là năng lượng mặt trời bởi có thể sử dụng các diện mái. Hiệu suất các hệ thống pin năng lượng mặt trời ngày càng được nâng cao, cùng với giá thành tấm pin gỉam đáng kể đã hỗ trợ cho việc sử dụng rông rãi trong các thiết bị đô thị, thí dụ như hệ thống đèn đô thị, các hệ thống camera quan sát … Việt Nam là nước có tiền năng lớn về năng lượng tái tạo, tuy nhiên để khuyến khích áp dụng vào đô thị thì cần phải có hệ thống văn bản hướng dẫn như quy chuẩn và tiêu chuẩn hỗ trợ do phải sử dựng nguồn ngân sách để đầu tư.
Vấn đề thiếu nước sạch, tái sử dụng nước là một vấn đề thế giới quan tâm, đặc biệt là ở quy mô độ thị lượng nước mưa rất lớn. Có một nghịch lý rõ ràng là chính quyền thành phố vừa phải lo thoát nước khi có mưa lớn (ra sông hồ qua đường ống), vừa phải lo lượng nước tưới hàng ngày cho thành phố (hút ngược từ sông hồ lên). Hiện nay, ở một số nước phát triển, người ta đã bổ xung vào hệ thống hạ tầng kỹ thuật hệ thống bể ngầm để tích trữ nước mưa và tái sử dụng là nước rửa đường và nước tưới. Đây chính là một giải pháp tối ưu và cần được quan tâm ứng dụng.
Trong bất kỳ đô thị nào hệ thống cây xanh là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên ngoài những tách dụng đã biết như tạo bóng mát, hấp thụ Co2,… thì việc tổ chức hệ thống cây xanh còn có thể phát huy thêm ưu điểm của hệ thống này, đó là khả năng hút buị, chống ồn.. Việc trồng cây theo hàng có mật độ cao, hoặc sử dụng các tường bằng cây leo có thể tạo thành các hệ thống ngăn tiếng ồn hiệu quả cũng như hấp thụ bụi. Việc bố cục các “tấm tường xanh” một cách khéo léo có thể tạo ra các kênh các bẫy gió để dẫn gió đến những khu vực mong muốn, cũng như tạo ra các bẫy bụi. Việc bố trí và thiết kế hệ thống cây xanh có sự quan tâm để có các giải pháp hỗ trợ môi trường như tăng cương chất lượng không khí và tiện nghi về tiếng ồn là một giải pháp thông minh cho đô thị
…
Ngành Xây dựng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân đó là xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội. Các đô thị trong tương lai chiếm tỷ trọng lớn của toà n ngành, và các thành phố đòi hỏi được xây dựng ngày càng thông minh hơn. Ngược trở lại, thành phố muốn trở thành thông minh hơn thì trước hết thành phố đó phải được xây dựng một cách thông minh [8]. Thành phố hay đô thị được được tạo bởi một nền tảng vật lý mà theo ngôn ngữ tin học còn gọi là phần cứng, đó là hệ thống công trình xây dựng như: đường phố, các tòa nhà, công trình kĩ thuật và các hệ thống ngầm đô thị v.v… Các công trình xây dựng đa phần đều có sự tham gia của các chuyên gia ngành Xây dựng bao gồm các nhà quy hoạch, kiến trúc sư và kỹ sư, những người tham gia rất sớm từ khâu ban đầu của mọi dự án từ việc lập ý tưởng, lên phương án quy hoạch- kiến trúc, thiết kế và hoàn thiện các hạng mục xây dựng, đặc biệt là các công trình hạ tầng kĩ thuật.
Các Kiến trúc sư quy hoạch và công trình với vai trò kiến tạo ra các thành phố các đô thị từ tổng thể đến chi tiết, từ lúc khởi đầu cho đến lúc kết thúc xây dựng, luôn phải đi đầu trong việc thông minh hóa đô thị cụ thể trên các lĩnh vực quản lý và các công tác xây dựng và phải thực hiện một cách thông minh từ phía ngành của mình như sau:
Để Xây dựng thông minh đòi hỏi các yêu cầu mang tính nguyên tắc chính như sau:
Đề làm được các nội dung trên, Ngành xây dựng nói chung và giới Kiến trúc nói riêng cần chủ động tích cực tham gia chỉ đạo của Chính phủ về chuyển đổi số, bao gồm các nội dung trước mắt:
Vào cuối thế kỷ 21, có khả năng dân số toàn cầu sẽ đạt đỉnh, phần lớn dân số sẽ sống ở các thành phố, thế giới sẽ phải ngừng hoạt động mở rộng đô thị và tìm cách phát triển các năng lực hiện hữu của các đô thị. Một cơ hội duy nhất trong những thập kỷ tới là định hình tương lai của xã hội toàn cầu thông qua đổi mới trong hệ thống đô thị thông minh.Thành phố thông minh là một phương thức sống mới của nhân loại, nó không đơn thuần chỉ là việc ứng dụng các công nghệ thông tin. Việc sử dụng tài nguyên ngày càng hạn chế nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng cuộc sống tốt, là nơi thực sự đáng sống cho số đông.
Chuyển đổi số [5] không chỉ đơn giản là vấn đề riêng của ngành công nghệ thông tin, mà còn yêu cầu sự hợp tác tham gia tích cực chủ động của nhiều ngành. Trong đó, ngành Xây dựng với vai trò chính yếu trong xây dựng, vận hành và quản trị của các thành phố cần được bắt đầu từ việc cấy gen thông minh cho thành phố ngay phần cứng. Đó là việc quy hoạch, thiết kế và xây dựng các hệ thống công trình các tiện ích đô thị thông minh, song hành với việc số hoá các dữ liệu ngành. Mục đích chuyển đối số của ngành không gì khác hơn là để phục vụ nhanh chóng và hiệu quả các yêu cầu của phát triển kinh tế-xã hội, và trong đó góp phần làm cho các thành phố của chúng ta trở nên ngày càng thông minh hơn.
Hà Nội, 12/12/2021
Ths. KTS. Nguyễn Huy Khanh
Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam – CTCP
(Bài Đăng trong kỷ yếu Hội thảo Gặp gỡ mùa thu 2021)
Tài liệu tham khảo:
[1] – “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” Nghị quyết 52NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ chính trị
[2] – “Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025 định hướng đến năm 2030” Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ
[3] – “Thủ tướng Chính phủ giao thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng tham gia Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN” Công văn số 4211/VPCP-QHQT ngày 08/5/2018 của Văn phòng Chính phủ.
[4] – “Về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2025” Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ
[5] – “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
[6] –“Kế hoạch Chuyển đổi số ngành Xây dựng giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030” Quyết định 1004/QĐ-BXD Ngày 31/7/2020, Bộ Xây dựng.
[7] – Đề án “Xây dựng thủ đô Hà Nội thành Thành phố thông minh, giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030”. Chủ trì đề án TS. Nguyễn Nhật Quang – Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ VINASA (2019).
[8] – “Thành phố Xanh-Sáng tạo-Thông minh”. Nguyễn Quang – Giám đốc UNHABITAT Vietnam (2020)
[9] – “Cách mạng công nghiệp 4.0 và Chuyển đổi số” TS. Nguyễn Nhật Quang – Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ VINASA (2018).
[10] – https://vi.wikipedia.org/wiki/Đô_thị_nhỏ_g%E1%BB%8Dn